Chúa Nhật XI thường niên - Năm A
TRUYỀN GIÁO
Góp nhặt 

Nhìn thấy đám đông, Chúa Giêsu đã động lòng thương xót và Ngài đã đưa ra hai hình ảnh để nói lên tình trạng đáng thương của họ. Đó là hình ảnh đàn chiên và hình ảnh cánh đồng lúa chín.

Trước hết là hình ảnh đàn chiên. Thực vậy, đàn chiên mà thiếu vắng người chăn, thì rồi sẽ như thế nào? Những con chiên ấy làm sao biết được con đường dẫn tới đồng cỏ non và dòng suối mát. Những con chiên ấy làm sao chống trả được với nanh vuốt sói rừng. Những con chiên ấy làm sao tìm được nơi nghỉ ngơi an toàn qua đêm. Phải, nếu không có người chăn, chắc chắn đàn chiên sẽ bị tan tác.

Tiếp đến là hình ảnh cánh đồng lúa chín. Thực vậy, lời cảnh báo của Chúa Giêsu, từ ngàn xưa và cho tới ngày hôm nay, vẫn còn là một sự thật:

- Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít. Vậy các con hãy xin chủ sai thợ đi gặt lúa về.

Trong những năm gần đây, vùng đồng bằng sông Cửu Long đã thay thế lúa mùa bằng lúa thần nông. Mà đã cấy lúa thần nông, thì hầu như vào cùng một thời điểm, nhà nhà đều xuống giống và nhà nhà đều thu hoạch. Vì thế, kiếm được thợ để xuống ruộng gặt lúa, đôi khi đã trở thành một vần đề nan giải. Lúa đã chín mà không có thợ, bị rơi rụng trên ruộng đồng, nhìn thấy mà xót xa.

Dĩ nhiên qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn nói đến một mùa gặt thiêng liêng, cũng như muốn nói đến những người thợ vừa thành tâm, vừa thiện chí, lại vừa có đủ khả năng để đem lại những lợi ích cho các linh hồn. Bởi đó, chúng ta hãy cầu xin để có được nhiều người nhiệt tình đáp trả lời mời gọi của Chúa trên cánh đồng truyền giáo.

Tôi nghĩ rằng ơn gọi thì không thiếu. Cái thiếu duy nhất đó là sự quảng đại của con tim để đáp trả. Nhu cầu truyền giáo mỗi ngày một khẩn thiết, bởi vì rất nhiều người sẽ bị hư đi chỉ vì thiếu vắng các mục tử, các chủ chăn.

Hoàn cảnh hôm nay của chúng ta thật khác xa với hoàn cảnh của các môn đệ ngày xưa. Thực vậy, ngày xưa chính Chúa Giêsu đã qui tụ các ông, sai các ông đi và trao ban cho các ông những quyền hành đặc biệt, để được dễ dàng hơn trong việc thi hành sứ mạng của mình.

Đúng thế, chính Ngài đã phán:

- Các con hãy làm cho những người bệnh được khỏi, hãy làm cho những người chết được sống lại, hãy làm cho những người phong cùi được lành sạch và hãy xua trừ ma quỉ…

Sở dĩ như vậy là để mọi người có thể nhận ra rằng sứ mạng của các ông là sứ mạng xuất phát từ trời cao, xuất phát từ Thiên Chúa. Nếu như ngày hôm nay, các linh mục, tu sĩ hay các nhà truyến giáo cũng có được những quyền hành như thế, chắc hẳn việc rao giảng Tin Mừng sẽ dễ dàng hơn và sẽ gặt hái được những thành quả tốt đẹp. Thế nhưng, đó chỉ là một giấc mơ, hay chỉ là một phép lạ. Đúng thế, đừng mơ mộng nữa mà phải trở về với thực tế. Thời buổi buổi bây giờ phép lạ rất họa hiếm và chỉ xảy ra trong những trườn họp đặc biệt mà thôi.

Trở lại với các môn đệ. Trước hết Chúa Giêsu sai các ông đến với những người Do Thái, những con chiên lạc của nhà Israen, rồi sau đó, đến với các dân tộc. Các ông đã lên đường và hăng hái rao giảng:

- Nước Trời đã đến gần.

Trải qua hai ngàn năm, sứ mạng truyền giáo, sứ mạng rao giảng Tin Mừng vẫn còn là một sứ mạng cấp bách, bởi vì trên toàn thế giới mới chỉ có hơn 30% dân số nhận biết Đức Kitô, trong đó người công giáo chỉ chiếm có 17% mà thôi. Còn tại Việt Nam, số người công giáo chưa được 10%.

Sứ mạng truyền giáo, sứ mạng rao giảng Tin Mừng không phải là một sứ mạng được dành riêng cho các linh mục và tu sĩ. Trái lại, phải là một sứ mạng chung của mọi Kitô hữu. Bởi vì đã là Kitô hữu, chúng ta đều có bổn phận phải làm cho thân mình mầu nhiệm của Đức Kitô, tức là Giáo Hội, được phát triển, được lớn lên. Tuy nhiên, chúng ta đã thực thi sứ mạng trọng đại ấy như thế nào? Chúng ta đã góp phần vào công cuộc truyền bá đức tin của Giáo Hội ra làm sao? Đừng hỏi rằng Giáo Hội đã làm được những gì cho tôi, nhưng hãy tự vấn lương tâm xem tôi đã làm được những gì cho Giáo Hội?